Tiêu chí phân nhóm các hệ thống pháp luật trên thế giới

(CHỈ MANG TÍNH THAM KHẢO)

MỤC LỤC

A. LỜI MỞ ĐẦU 2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Sự thay đổi quan điểm trong cách lựa chọn tiêu chí phân nhóm các hệ thống pháp luật trên thế giới 2
2. Bình luận về hai cách phân nhóm tiêu biểu 2
a. Cách phân nhóm của René David 2
b. Cách phân nhóm của Konrad Zweigert và Hein Kotz 3
c. LỜI KẾT 5
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO 5


A. LỜI MỞ ĐẦU

Trên thế giới hiện nay có rất nhiều tiêu chí khác nhau để phân nhóm các hệ thống pháp luật. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu của mình mà các học giả lựa chọn các tiêu chí phù hợp để phân nhóm các hệ thống pháp luật trên thế giới.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Sự thay đổi quan điểm trong cách lựa chọn tiêu chí phân nhóm các hệ thống pháp luật trên thế giới.
Trước đây, nhiều tác giả luật học so sánh đã cố tìm ra tiêu chí duy nhất (như tiêu chí hệ thống kinh tế, hệ thống chính trị…) để phân loại bởi họ cho rằng đó mới là biện pháp khoa học nhất VD: trong quá khứ các học giả đã căn cứ trên tiêu chí hệ thống kinh tế để phân nhóm các hệ thống PL trên thế giới. Sự bất hợp lý là ở chỗ xét về tiêu chí này thì Pháp và Anh có hệ thống kinh tế tương đối giống nhau nhưng hệ thông pháp luật của chúng lại không hề tương đồng, nếu như Anh coi trọng án lệ hơn thì Pháp lại coi trọng pháp luật thành văn hơn trong việc giải quyết các tranh chấp. Vì vậy thực tế là xu hướng chọn duy nhất 1 tiêu chí đang dần bị thay thế bới một xu hương quan điểm tiến bộ hơn. Hiện nay phần lớn các tác giả đều đồng ý rằng để việc phân chia có ý nghĩa thì cần dựa trên một vài tiêu chí khác nhau. Trên thực tế, có rất nhiều cách phân loại như: theo Konrad Zweigert và Hein Kotz, ông dựa vào tiêu chí lịch sử, tầng bậc và cách giải thích các nguồn luật, hệ tư tưởng pháp luật; Rene David phân loại dựa trên sự phối hợp của hai tiêu chí: tính chất kỹ thuật và nguyên tắc triết học, chính trị, kinh tế, loại hình xã hội; Constantinesco đề xuất một loạt “các yếu tố quyết định” như : những quyết định cơ bản của pháp luật đối với nền kinh tế, hệ tư tưởng chính thức, vai trò của Nhà nước trong xã hội, quyền dân sự cơ bản, vai trò của thẩm phán…; Sunberg tìm tòi cách phân loại dựa trên sự ảnh hưởng của từng hệ thống, mức độ pháp điển hóa, vị trí của cá nhân và lý luận định hướng sự phát triển của pháp luật…
Mặc dù vậy, không thể khẳng định được rằng sử dụng bao nhiêu tiêu chí và phân chia các hệ thống pháp luật trên toàn thế giới thành bao nhiêu dòng họ pháp luật là chính xác. Việc phân loại dựa trên các tiêu chí nào cho phù hợp hoàn toàn phụ thuộc vào mục đích của việc nghiên cứu.
2. Bình luận về hai cách phân nhóm tiêu biểu.
a. Cách phân nhóm của René David.
* Réne David, một học giả người Pháp, đã kết hợp hai tiêu chí để phân nhóm HTPL, đó là kỹ thuật pháp lý và hệ tư tưởng. Dựa trên hai tiêu chí nói trên, Rene David đã phân chia các hệ thống pháp luật trên thế giới thành bốn dòng họ pháp luật:Hệ thống pháp luật La Mã – Đức ( Romano – Germanic ): thường được gọi là hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa; Hệ thống pháp luật Anh Mỹ – common law;Hệ thống pháp luật Xã hội chủ nghĩa; Hệ thống luật dựa trên tôn giáo và các chính sách truyền thống khác (Luật hồi giáo, Luật Hindu, Luật của một số nước vùng Đông Á và pháp luật một số nước châu Phi).
Về tiêu chí kỹ thuật pháp lý: Ông cho rằng giữa các hệ thống pháp luật khác nhau có sự khác biệt như: cùng một thuật ngữ pháp lý nhưng dẫn đến những cách hiểu khác nhau; Hệ thống thứ bậc các nguồn luật và các phương pháp của mỗi hệ thống pháp luật cũng khác nhau.
Do đó theo ông, luật gia được đào tạo trong hệ thống pháp luật này khi hành nghề trong 1 hệ thống pháp luật khác gặp rất nhiều khó khăn. Theo đó thì một cách khái quát, dòng họ civil law và common law khác nhau cơ bản về kĩ thuật phân tích và áp dụng pháp luật (một bên áp dụng và giải thích các quy định của luật thành văn, bên còn lại thì giải quyết tranh chấp dựa vào việc lập luận theo các án lệ) . Như vậy tiêu chí này có thể cho phép chúng ta phân biệt các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ civil law và các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ common law nhưng lại chưa đủ để xác định dòng họ civil law với dòng họ pháp luật Xã hội chủ nghĩa.
Về tiêu chí hệ tư tưởng:Theo R.David, hai hệ thống pháp luật cho dù có những điểm tương đồng về mặt kỹ thuật pháp lý và thuật ngữ nhưng không thể đựợc xem là thuộc vào cùng một dòng họ nếu chúng được xây dựng dựa vào nguyên tắc triết học, chính trị và kinh tế trái ngược và theo đuổi mục đích xây dựng những loại hình xã hội khác nhau. Đây chính là tiêu chí về hệ tư tưởng của ông được đề cập trong cuốn Major Legal System in the World Today (trang 20 – 21). Quan điểm của ông là: 2 tiêu chí trên nên được sử dụng kết hợp, không nên tách biệt để có thể xác định các dòng họ pháp luật một cách rõ ràng.
* Một sự phát triển khác do David dự đoán là việc hệ thống pháp luật La Mã – Đức, hệ thống pháp luật Common Law sẽ kết hợp ngày càng gần nhau hơn và cuối cùng sẽ hợp thành hệ thống Common Law, luật Phương Tây “droit occidental” ( David,Essays Yntema tr56-64). Tuy nhiên, dự đoán này hiện nay vẫn chưa thành hiện thực vì mặc dù trên thế giới xu thế hợp tác, giao lưu trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực pháp luật khiến cho hai hệ thống pháp luật nói trên xích lại gần nhau nhưng thực chất chưa thể hòa hợp làm một.
Cách phân chia nêu trên của David tỏ ra phù hợp với quan điểm sư phạm, với mối quan tâm và nhu cầu của phần đông các luật gia phương Tây. Người ta chủ yếu quan tâm tới các hệ thống pháp luật ở châu Âu và châu Mỹ. Trong khi đó các hệ thống pháp luật có nhiều đặc tính khác nhau như đạo Hồi và luật châu Phi lại bị gộp chung vào một nhóm.Xét theo quan điểm đó, cách phân chia của David hoàn toàn có thể chấp nhận về mặt phương pháp sư phạm.
b. Cách phân nhóm của Konrad Zweigert và Hein Kotz.
Zweigert và H. Kotz là hai học giả người Đức đưa ra tiêu chí hình thái pháp luật để phân nhóm pháp luật, bao gồm nhiều tiêu chí thành phần khác nhau như: Cơ sở và sự phát triển lịch sử của hệ thống pháp luật; Phương thức tư duy pháp lí nổi trội và đặc trưng; Các chế định pháp lí đặc thù; thứ bậc nguồn luật và cách thức giải thích nguồn luật; Hệ tư tưởng của hệ thống pháp luật. Việc đưa các tiêu chí bộ phận này vào trong một tiêu chí chung là hình thái pháp luật có thể hiểu đó là sự kết hợp nhiều tiêu chí khác nhau để phân nhóm các hệ thống pháp luật chứ không phải sử dụng một tiêu chí đơn lẻ. Với việc căn cứ vào nhiều tiêu chí cụ thể như trên, hai học giả đã phân nhóm các dòng họ pháp luật chi tiết hơn với sáu dòng họ: dòng họ pháp luật La Mã; dòng họ pháp luật Giécmanh; dòng họ pháp luật Bắc Âu; dòng họ Common Law; một số hệ thống pháp luật chịu ảnh hưởng của tôn giáo như luật Hồi giáo, luật Hindu và pháp luật của một số nước vùng Đông Á. Như vậy, thay vì phân thành một dòng họ PL thì với hệ tiêu chí này, Zweigert và H. Kotz đã chi tiết dòng họ Pl các nước thuộc địa châu Âu thành dòng họ PL La Mã, dòng họ PL Giécmanh, dòng họ PL Bắc Âu, căn cứ về mặt lịch sử phát triển. Cụ thể là: dòng họ PL La Mã và dòng họ Pl Giécmanh mặc dù bị ảnh hưởng bởi luật La Mã nhưng sự ảnh hưởng của luật La Mã đối với pháp luật Đức khác hẳn sự ảnh hưởng đối với PL Pháp và Ý.Ngoài ra, đây cũng là căn cứ để xác định pháp luật các nước Bắc Âu được xếp vào nhóm riêng biệt khác với dòng họ pháp luật Giécmanh và dòng họ pháp luật La Mã.
Xét tiêu chí nguồn luật, tiêu chí này có thể được sử dụng để phân biệt nguồn của dòng họ pháp luật Hồi giáo và pháp luật Hindu với các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ common law, dòng họ civil law và dòng họ pháp luật XHCN. Nếu phân tích cụ thể về cách thức sử dụng các nguồn luật cũng như tầm quan trọng của các nguồn luật này, chúng ta sẽ thấy được sự khác biệt giữa các nước thuộc dòng họ civil law và common law. Các nước thuộc dòng họ common law như Anh, Mỹ,Australia tuy vẫn tôn trọng truyền thống sử dụng án lệ nhưng vai trò của luật thành văn cũng đã bắt đầu được đánh giá một cách đúng đắn hơn. Ngược lại, các nước thuộc dòng họ civil law, tuy một số các phán quyết của họ đã được sử dụng làm nguồn của pháp luật (vd như: một số trường hợp cụ thể các thẩm phán ở toà án cấp dưới đã sử dụng phán quyết của toá án cấp trên để tham khảo để giải quyết các tranh chấp). Song trong ý thức của các thẩm phán, họ thường không thừa nhận vai trò tạo ra pháp luật của mình. Vì thế, luật thành văn trong hệ thống pháp luật thuộc dòng họ civil law vẫn chiếm ưu thế.
Có thể thấy cách phân nhóm của Zweigert và H.Kotz khá hợp lý, cụ thể và dễ tiếp cận song có lẽ việc sắp xếp các dòng họ pháp luật của R. David thường được nhắc tới hơn. Tuy nhiên, dù được sắp xếp không giống nhau với tiêu chí phân loại khác nhau nhưng trong những tác phẩm nổi tiếng của mình các ông đều đề cập đầy đủ tới các yếu tố quan trọng của hệ thống pháp luật.
C. LỜI KẾT
Mặc dù các học giả trên thế giới đã và đang cố gắng xây dựng những tiêu chí cho việc phân nhóm các hệ thống pháp luật thành các dòng họ pháp luật khác nhau, tuy nhiên, kết quả của việc phân nhóm lại có những điểm khá tương đồng. Vì vậy, mặc dù sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau, các dòng họ pháp luật được xác định vẫn rất quen thuộc đối với các nhà luật học là dòng họ common law, dòng họ civil law và dòng họ pháp luật XHCN và một số nhóm pháp luật khác gắn với các nhóm tôn giáo khác nhau là luật Hồi giáo, luật Hindu. Trong xu thế hiện nay chúng ta có thể dự đoán rằng HTPL các nước XHCN sau khi phe XHCN tan rã có xu hướng nghiêng về dòng họ civil law hơn bởi sự coi trọng pháp điển hóa của các nước này.

D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật so sánh, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội,2008;
2. Michael Bogdan, Luật so sánh (Bản tiếng Việt), Nxb. Kluwer,
Norstedts Juridik, Tano,2002;
3. René David, Những hệ thống pháp luật chính trong thế giới đương đại,
Nxb. TP Hồ Chí Minh, 2003;
4. Võ Khánh Vinh, Giáo trình luật học so sánh, Đại học Huế, NXB Công an
Nhân dân, Hà Nội, 2002.

Sự phát triển của các hệ thống pháp luật trên thế giới

1. Pháp luật ở một số nước Civil Law: điển hình là hệ thống pháp luật của Pháp và Đức.
a. Sự phát triển của hệ thống pháp luật Pháp:
Trước cách mạng tư sản Pháp năm 1789 Pháp không có hệ thống pháp luật thống nhất, chủ yếu sử dụng luật giáo hội và các tập quán địa phương (có khoảng 60 tập quán cấp tỉnh và 300 tập quán cấp huyện); có một học giả người Pháp tên là Veltare đã nhận xét nếu một người đi khắp đất nước Pháp thì cũng phải chịu sự thay đổi pháp luật thường xuyên như thay đổi ngựa. Đến sau cách mạng tư sản ở Pháp đã diễn ra một cuộc đại pháp điển, xây dựng hàng loạt Bộ luật, Luật mà trong đó điển hình là Bộ luật Napoleon (1804) đây chính là tên gọi của Bộ luật dân sự Pháp, do hoàng đế Napoleon khởi xướng và trực tiếp quá trình soạn thảo, Napoleon sinh năm 1769 đến năm 1800 lên ngôi tổng tài đệ nhất đã chỉ định một uỷ ban pháp điển gồm 4 luật gia có kinh nghiệm, chỉ trong 4 tháng uỷ ban này đã đưa ra bản dự thảo đầu tiên của Bộ luật dân sự; tuy nhiên Bộ luật này phải trải qua 4 năm với 102 cuộc họp mới thông qua, trong 102 cuộc họp đó Napoleon đã tham gia trực tiếp 57 cuộc họp. Đây là Bộ luật dễ hiểu, đến cả những người nông dân khi đọc vẫn có thể hiểu được một cách chi tiết…, đây có thể nói là Bộ luật kinh điển, hình mẫu cho dân luật các nước Civil Law, Bộ luật khẳng định quan hệ sở hữu tài sản mới được xác lập sau cách mạng tư sản pháp, nhấn mạnh các quyền về sở hữu, phương thức sở hữu và thể hiện những tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản pháp như “tự do, bình đẳng, bác ái”, quyền tự do giao kết hợp đồng, quyền bình đẳng giữa đàn ông với đàn bà trong thừa kế, trong các qui định đã xoá bỏ các đặc quyền… cho đến nay Bộ luật Napoleon vẫn còn hiệu lực.

Hệ thống Toà án của Pháp được tổ chức theo Hiến pháp 1958, được phân chia thành Toà án tư pháp và hệ thống Tài phán công pháp. Trong đó Toà án tư pháp bao gồm toà dân sự và toà hình sự. Toà dân sự được chia thành toà dân sự thường và dân sự chuyên ngành, toà dân sự chuyên ngành được chia thành toà lao động và toà thương mại. Đối với toà hình sự cũng được chia thành toà hình sự thường và toà hình sự đặc biệt. Ngoài ra còn có toà án tư pháp tối cao (toà phá án) toà này không trực tiếp xét xử mà chỉ xem xét lại tình hợp pháp quyết định của toà án cấp dưới, bản án của toà này được cấp dưới nghiên cứu và thực hiện.
Đối với hệ thống tài phán công được chia thành toà hiến pháp, tài chính công và toà án hành chính. Toà Hiến pháp là cơ quan tài phán cao nhất về trật tự Hiến pháp, có nghĩa vụ kiểm sát tính hợp hiến của luật, của sự phân quyền lập pháp, hành pháp và kiểm soát tình hợp hiến của các cam kết quốc tế mà pháp luật chịu sự ràng buộc. Toà án hành chính, ở đây theo quan điểm của Civil Law thì nhà nước có tư cách pháp nhân công pháp, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản đó, nhà nước có trách nhiệm đối với hoạt động của mình thông qua các cơ quan có thẩm quyền và các công chức nhà nước. Đối với toà tài chính công là cơ quan chuyên ngành về tài chính xuất hiện từ những năm 1807 có chức năng giúp nghị viện và Chính phủ kiểm tra việc thực hiện pháp luật về tài chính.
Ở Pháp còn có toà án xung đột chuyên giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền xét xử, tuy nhiên Pháp không có viện công tố, các công tố viên nằm trong tổ chức của toà án nhưng không phụ thuộc vào toà án.

Việc đào đào luật và nghề luật ở Pháp cũng có những đặc trưng cụ thể, bằng đại học luật vẫn là điều kiện cần thiết hành nghề luật, sau 4 năm học luật muốn trở thành thẩm phán hoặc công tố viên thì phải học qua trường đào tạo thẩm phán ở Bordeaax 31 tháng và trải qua một thời gian thực tập, học viên tốt nghiệp được bổ nhiệm làm thẩm phán hoặc công tố viên; những người muốn trở thành thẩm phán tại toà án hành chính thì phải học tại học viện hành chính quốc gia, riêng có một điểm đặc biệt thẩm phán toà án thương mại lại được cử ra từ các thương nhân có uy tín và kinh nghiệm.
Để trở thành luật sư học viên phải hoàn thành khoá học 12 tháng ở trung tâm đào tạo luật sư và phải là thành viên của hội luật sư địa phương thực tập từ 2-5 năm. Nghề luật sư ở Pháp được coi là một nghề tự do, độc quyền trong trợ giúp và đại diện cho các bên trước toà.

b. Sự phát triển của hệ thống pháp luật Đức:
Nước Đức như chúng ta đã biết chỉ có sự thống nhất trong thời gian ngắn ngủi (1867-1945) và từ 1990 đến nay, trước năm 1867 Đức có nhiều loại Luật bằng nhiều thứ tiếng khác nhau; Hệ thống pháp luât Đức là hệ thống pháp luật liên bang, mỗi bang có một nghị viện riêng, có thẩm quyền lập pháp. Bộ luật dân sự Đức là bộ luật điển hình hay còn gọi là bộ luật của các giáo sư, vì nó được các giáo sư trong các trường đại học ở Đức soạn thảo, khác với Pháp là do các luật gia có kinh nghiệm soạn thảo, tuy nó có cấu trúc hợp lý, rõ ràng nhưng lời văn không dễ hiểu, sử dụng nhiều thuật ngữ chuyên ngành, Bộ luật dân sự Đức có 2400 đoạn, 5 quyển (phần chung, nghĩa vụ, các quyền tài sản và quyền sở hữu, luật gia đình, luật thừa kế), nội dung có tham vọng điều chỉnh nhiều vấn đề, riêng bộ luật dân sự Pháp thì lại cố gắng điều chỉnh tất cả mối quan hệ trong xã hội kể cả lĩnh vực thương mại, đối với Đức thì có Bộ luật thương mại riêng.
Hệ thống Toà án của Đức hơi phức tạp, có toà Hiến pháp, toà án bang (16 bang) và toà án liên bang (6 toà án) và toà khu vực, những vụ việc dân sự thì được xét xử ở cấp khu vực, phúc thẩm ở cấp bang và chung thẩm ở cấp liên bang; đối với những vụ việc nghiêm trọng thì xét xử cấp bang và phúc thẩm, chung thẩm cấp liên bang. Toà án Hiến pháp giải quyết các vấn đề liên quan đến hiến pháp, tranh chấp giữa liên bang và bang hoặc các bang với nhau. Đối với toà liên bang bao gồm các toà như: toà thuế, các vấn đề xã hội, các vấn đề lao động, các vấn đề hành chính và các vấn đề chung. Toà án bang được tổ chức như các toà án của liên bang; Toà khu vực xét xử các lĩnh vực xã hội, lao động, hành chính dân sự, hình sự, thương mại được tách ra từ toà xét xử các vấn đề chung của toà bang.
Việc đào tạo luật và nghề luật của Đức cũng có nét đặc trưng riêng, nhìn chung ở Đức không có mô hình đào tạo nghề luật như ở Pháp, bậc đại học kéo dài 4 năm và kết thúc bằng kỳ thi quốc gia thứ nhất, sau khi có chứng chỉ phải có tiếp 3 năm thực tập, trong 3 năm thực tập phải có 1,5 năm học kỹ năng (chuẩn bị hồ sơ, tiếp xúc với khách hàng, tranh tụng…), nửa năm thực tập tại toà án, nửa năm thực tập tại văn phòng luật sư và nửa năm dành cho việc thi quốc gia lần 2. Người tốt nghiệp sau kỳ thi quốc gia lần 2 mới có bằng chính thức, người muốn trở thành luật sư không phải học để lấy bằng luật sư và người muốn trở thành thẩm phán thi xong ra thực tập có thể được bổ nhiệm không phải học như ở Pháp. Nghề luật sư ở Đức được coi là nghề phục vụ công lý không giống như ở Pháp là một nghề tự do phục vụ cho khách hàng, có thoả thuận thù lao với khách hàng, còn ở Đức thì không được tự ý thoả thuận, luật sư chỉ được lấy thù lao theo qui định. Luật sư có thể chuyên sâu vào một lĩnh vực nếu đã có chứng chỉ chuyên ngành, đã hành nghề 2 năm và chỉ được chuyên sâu tối đa 5/ 5 lĩnh vực
2. Pháp luật ở một số nước Common Law: điển hình là hệ thống pháp luật của Anh và Mỹ.
a. Sự phát triển của hệ thống pháp luật của Anh:
Trước năm 1066 (thời kỳ Anglo-Saxon – những người gốc Anh). Nước Anh đã từng là một phần của đế quốc La Mã trong 4 thập kỷ nhưng không bị ảnh hưởng của Luật La Mã, sau khi đế quốc La Mã suy tàn, nước Anh bị chia thành nhiều vương quốc nhỏ với hệ thống pháp luật mang tính địa phương, chủ yếu chịu ảnh hưởng tập quán bởi người Germain.
Từ năm 1066 – 1485 đây là thời kỳ ra đời của Common Law mang ý nghĩa là luật chung. Những người Normande và người ở miền Bắc nước Pháp đã chiến thắng người Anglo-Saxon trong trận Hasting, thủ lĩnh những người Normande đã lên ngôi vua nước Anh lấy hiệu là Willam (người chinh phục), Willam đã tuyên bố quy trì tập quán Anglo-Saxon và tập trung xây dựng chế độ phong kiến tập quyền. Người Anh rất quí trọng truyền thống, chế độ quân chủ của nước Anh đến nay vẫn tồn tại, sau năm 1066 các luật địa phương vẫn được áp dụng pháp quan, toà án Hoàng gia Anh chỉ hoạt động trong phạm vi hạn chế, dưới thời Willam toà án hoàng gia chỉ xét xử những vụ việc liên quan đến những người của triều đình và các vụ việc về thuế. Toà án hoàng gia muốn mở rộng thẩm quyền và thu nhập nên đã cử các thẩm phán đi xét xử lưu động, từ đó dần đã thống nhất nguyên tắc xét xử và đến giữa thế kỷ XIII đã hình thành một hệ thống án lệ được áp dụng thống nhất trên toàn nước Anh thay thế cho luật địa phương.

Từ thế kỷ XV– thế kỷ XIX ở Anh đã ra đời luật công bằng, luật chung đã phát huy những mặt tích cực trong thống nhất cách áp dụng pháp luật và hoạt động xét xử của toà án, nhưng bộc lộ nhiều khiếm khuyết, thực hiện khả năng có hạn trong việc giải quyết các vấn đề rất đa dạng của cuộc sống. Luật công bằng có nguồn gốc coi nhà vua như biểu tượng của công lý, tất cả các vấn đề đều được gửi đơn thỉnh cầu lên vua. Đến cuối thế kỷ XVI cơ quan tài phán đặc biệt là toà công bằng đã ra đời, ngài đổng lý văn phòng giữ vai trò pháp quan; Luật công bằng xuất hiện bên cạnh luật chung nhưng không làm thay đổi luật chung và không vô hiệu hoá các qui định của luậ chung.
Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XIX ở Anh đã có cuộc cải cách hệ thống toà án và thủ tục tố tụng do sau chiến tranh Anh – Pháp, nước Anh bị lâm vào tình trạng khủng hoảng đòi hỏi phải có cải cách toàn diện . Lúc này ở Anh có 3 hệ thống toà án gây nên sự chồng chéo và mâu thuẫn (Hoàng gia, Công bằng và địa phương). Ngoài ra các thủ tục tố tụng ở Anh quá phức tạp, mỗi vụ đòi hỏi phải có một loại trát (write) riêng. Việc cải cách này xuết hiện từ tư tưởng của Jeremy Bantan, ông cho rằng hệ thống pháp luật của Anh mang tính lịch sử, ngẫu nhiên nhiều hơn là tính hợp lý và đề xuất pháp điển hoá ở Anh lúc bấy giờ, ban đầu tư tưởng cải cách này không được ủng hộ của các luật sư, đến cuối thế kỷ XIX đã được chấp nhận và trở thành cơ sở cho việc cải cách pháp luật ở Anh.
Từ cuối thế kỷ XIX cho đến nay ở anh xuất hiện luật thành văn. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất luật hành chính phát triển mạnh cùng với sự xuất hiện của hàng loạt văn bản, trong thời kỳ này cũng đã diễn ra nhiều cải cách trong một số lĩnh vực mang tính truyền thống như gia đình, hợp đồng, dân sự, thương mại, hình sự… Năm 1972 Anh ra nhập cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) cũng đã tác động mạnh mẽ đến việc hình thành luật thành văn ở Anh.
Pháp luật Anh được mở rộng chủ yếu là do công cuộc mở rộng thuộc địa, không có sự tự nguyện tiếp nhận như hệ thống pháp luật của Pháp, tuy nhiên có một điểm đặc biệt những nước đã tiếp nhận hệ thống pháp luật của Anh thì lại không muốn từ bỏ, bởi pháp luật của Anh vừa có tình mềm dẻo vừa có tình thực tiễn đặc biệt. Hệ thống pháp luật Anh đã mở rộng ra nhiều nước trên thế giới, điển hình như Úc trở thành thuộc địa của Anh năm 1770, Hồng Kông năm 1842 và nhà nước tự trị Canada năm 1867.
Nguồn của hệ thống pháp luật Anh bao gồm Án lệ, luật thành văn, tập quán và lẽ phải, trong đó chủ yếu là án lệ, nó là phần lập luận trong các bản án và được coi là có tính bắt buộc.
Hệ thống toà án Anh được phân chia thành toà án cấp trên và toà án cấp dưới. Toà án cấp trên bao gồm toà phúc thẩm và sơ thẩm; Trong phúc thầm có toà phúc thẩm dân sự và toà phúc thẩm hình sự. Đối với toà sơ thẩm bao gồm toà công lý cấp cao và toà án triều đình, đối với toà án công lý cấp cao có toà án nữ hoàng, Toà án pháp quan và toà án gia đình; đối với toà án triều đình chỉ xét xử các vụ án nghiêm trọng. Toà án cấp dưới bao gồm toà hình sự, toà dân sự và toà hành chính. Ngoài ra còn có toà án tối cao Anh bao gồm Uỷ ban phúc thẩm thượng nghị viện và Hội đồng cơ mật hoàng gia. Anh không có việc công tố, Bộ Tư pháp, bởi họ cho rằng sự có mặt của viện công tố thể hiện sự bất bình đẳng giữa bên buộc tội và bị buộc tội trong vụ án hình sự…
Việc đào tạo nghề luật ở Anh không có tính bài bản (không chính qui) họ thiên về đào tạo từ thực tiễn và thủ tục tố tụng. Nghề luật sư được chia làm hai loại, luật sư bào chữa và luật sư tư vấn; Luật sư bào chữa làm nhiệm vụ biện hộ bảo vệ quyền lợi của khách hàng trước toà án, luật sư biện hộ không trực tiếp gặp khách hàng mà nhận yêu cầu và thù lao thông qua luật sư tư vấn. Việc đào tạo luật sư bào chữa được thực hiện thông qua bữa ăn tối, một người muốn trở thành luật sư bào chữa phải đến học ở Hội đoàn luật sư (Inn of Court) và phải trải qua 8 kỳ ăn tối, mỗi kỳ kéo dài 3 tuần, mỗi tuần phải đến ăn tối tại Hội đoàn luật sư ít nhất 3 lần, tại bữa ăn tối người ta diễn án, sau đó ăn tối và họ truyền kinh nghiệm cho nhau. Đối với việc đào tạo luật sư tư vấn chỉ cần thi đỗ trong kỳ thi chuyên môn do Hội luật sư tổ chức. Thẩm pháp ở Anh được cử ra từ các luật sư có uy tín và kinh nghiệm, thẩm phán xuất phát từ các luật sư tranh tụng và được giữ chức vụ suốt đời, đến năm 1990 ở Anh đã cho phép luật sư tư vấn tranh tụng ở các toà án cấp dưới.

b. Sự phát triển của hệ thống pháp luật Mỹ:
Người Anh xuất hiện ở Bắc Mỹ vào thế kỷ XVII đến năm 1722 ở Bắc Mỹ đã có 13 thuộc địa của Anh, nhưng lúc này pháp luật của Anh không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước Mỹ lúc đó. Xã hội Mỹ lúc đó có những nét đặc thù do đó phải áp dụng luật riêng được xây dựng trên cơ sở kinh thánh. Sau khi Mỹ tuyên bố độc lập năm 1776 pháp luật Anh và pháp luật Mỹ đã trở thành hai hệ thống pháp luật độc lập, hệ thống pháp luật Mỹ vừa có tính ổn định tương đối (dựa trên Hiến pháp Mỹ) vừa có tính điều chỉnh linh hoạt (dựa trên cơ sở án lệ), hệ thống pháp luật Mỹ là hệ thống pháp luật liên bang còn đối với hệ thống pháp luật Anh là hệ thống pháp luật đơn nhất; tuy nhiên hai hệ thống pháp luật này vẫn có nền tảng chung, pháp luật Mỹ vẫn sử dụng khái niệm, cách thức lập luận, lý thuyết và nguồn luật của pháp luật Anh. Nguồn của pháp luật Mỹ chủ yếu là luật thành văn, Hiến pháp Mỹ (1787) là hiến pháp thành văn đầu tiên trong lịch sử lập hiến thế giới và là Hiến pháp lâu đời nhất đến nay vẫn còn hiệu lực. Hiến pháp Mỹ không chỉ có giá trị nghi thức mà trên thực tế là cơ sở của hệ thống pháp luật Mỹ. Các bang của Mỹ cũng có hiến pháp riêng được soạn thảo và ban hành dựa trên hiến pháp liên bang. Pháp luật của liên bang cao hơn pháp luật của bang, nhưng về nguyên tắc thì quyền lập pháp chủ yếu thuộc về các bang. Ở Mỹ có 50 bang tương đương với 50 hệ thống pháp luật nhưng chúng cũng tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất vì khi soạn thảo các văn bản pháp luật, các bang thường tham khảo luật của các bang khác và thường không ban hành các qui phạm pháp luật quá khác biệt.
Hệ thống toà án ở Mỹ bao gồm toà án liên bang và toà án bang. Toà án liên bang bao gồm toà án thông thường và toà án chuyên ngành; Toà án thông thường bao gồm toà án tối cao liên bang, toà án liên bang phúc thẩm và toà án liên bang; Toà án chuyên ngành bao gồm các toà án về thuế, khiếu tố và toà án thương mại quốc tế. Đối với toà án bang bao gồm toà tối cao, toà phúc thẩm và toà sơ thẩm. Giữa toà án liên bang và toà án bang về nguyên tắc toà án cấp bang có nhiều thẩm quyền hơn toà án liên bang, toà án liên bang chỉ có thẩm quyền xét xử khi vụ việc liên quan đến việc giải thích hiến pháp liên bang và luật của liên bang. Toà án cấp bang giải quyết 95 % vụ việc và những vụ việc thuộc thẩm quyền của toà án cấp bang thì quyết định của toà án cấp bang là chung thẩm và không thể bị kháng cáo.
Việc đào tạo nghề luật ở Mỹ có đặc trưng khác với các nước khác, một người muốn vào học đại học thì phải có bằng cao đẳng (đào tạo từ 3-4 năm) để có văn hoá cơ bản sau đó sẽ được vào các trường luật để học một chương trình chủ yếu thiên về kinh thánh. Quá trình học chủ yếu bằng phương pháp thực hành như phương pháp tình huống, Socrdte (giáo sư và sinh viên đối thoại) và phương pháp thực hành trực tiếp (các sinh viên phảo tham gia tư vấn luật và đại diện cho khách hàng dưới sự theo dõi của luật sư và đồng thời là giáo sư. Sinh viên sau khi tốt nghiệp chỉ cần qua một thời gian tập sự ngắn đã có thể làm được việc.
Hiện nay ở Mỹ có khoảng 1 triệu luật gia có mật độ đông nhất thế giới, tâm lý công dân Mỹ rất thích kiện tụng. Điều kiện để trở thành luật sư ở mỗi bang cũng khác nhau, toà án bang là cơ quan có thẩm quyền công nhận luật sư và cho phép hành nghề, một người muốn trở thành luật sư thì phải trải qua kỳ thi công nhận dưới dạng thi viết, hàng năm luật sư phải đi học tiếp thu kiến thức mới; Luật sư bang này không thể là luật sư của bang khác. Trong phòng xử án luật sư không bảo vệ công lý mà bảo vệ cho thân chủ và cho lý lẽ riêng của mình, tại phiên toà thẩm phán và bồi thẩm đoàn chỉ căn cứ vào những gì họ nghe và thấy tại phiên toà để đưa ra phán quyết, trong đó thẩm phán đưa ra chế tài còn bồi thẩm đoàn chỉ có kết luật có tội hay không có tội… Thẩm phán liên bang do tổng thống Mỹ lựa chọn và bổ nhiệm với sự phê chuẩn của nghị viện, thẩm phán được lựa chọn từ những luật sư thực hành nổi tiếng hoặc các giáo sư luật ở các trường đại học lớn.

Xét ở khía cạnh đào tạo nghề luật giữa Việt Nam và các nước cho thấy, chúng ta vẫn mang nặng tính lý thuyết, pháp luật xã hội chủ nghĩa, luật sư với chức năng chủ yếu là bảo vệ công lý; tuy nhiên nếu so sánh với quá trình đào tạo nghề luật của Đức và Mỹ thì có thể nói còn thua kém xa về tư duy, cách thức đào tạo, quá trình đào tạo nghề luật của Đức và Mỹ tuy thuộc hai dòng họ pháp luật khác nhau nhưng qua quá trình đào tạo như vậy đã giúp cho sinh viên ra trường với một khả năng hội nhập rất lớn, sử dụng chuyên môn một cách vững chắc và thành thạo, từ khâu tiếp xúc với khách hàng cho đến khâu tranh tụng tại phiên toà, thể hiện rõ một quá trình đào tạo mang tính chuyên môn hoá cao mà chúng ta cần phải tiếp thu chọn lọc và kế thừa
Nguồn: http://lawsoft.thuvienphapluat.com

Các Hệ Thống Pháp Luật Hiện Nay Trên Thế Giới

CÁC HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HIỆN NAY TRÊN THẾ GIỚI

 

LS. TS. Trần Anh Tuấn
Phó Chủ tịch Hiệp hội Luật sư Quốc tế (Union Internationale des Avocats – UIA)
Giáo viên cơ hữu Khoa KT & QTKD – ĐH Mở Bán công TP.HCM
Bài đăng trên Tập san khoa học ĐH Mở Bán công TP.HCM số 2/2006

Cộng đồng quốc tế hiện nay có hơn 239 quốc gia và mỗi nước có những luật pháp riêng điều chỉnh hoạt động của cư dân và các mối quan hệ với bên ngoài. Những hệ thống luật pháp quốc gia khác nhau đó có thể tập trung trong hai loại lớn là hệ thống Dân luậthệ thống Luật chung. Bên cạnh đó, cũng có hệ thống luật Islam giáo đang được nhiều nước áp dụng.

Cũng cần lưu ý rằng tuy có ba hệ thống luật pháp chính là hệ thống Dân luật, hệ thống Luật chunghệ thống Luật pháp Islam giáo, trong thực tế vẫn có những “biến tấu” đa dạng trong cùng một hệ thống, hoặc có nước vừa theo hệ thống này vừa theo hệ thống kia. Ví dụ trong hệ thống Dân luật, có dân luật kiểu La Mã, dân luật kiểu Đức, dân luật kiểu Châu Mỹ La Tinh. Trong lúc đó, hệ thống luật của Nhật và Nam Phi thì lại có đặc điểm của cả hai hệ thống. Chưa kể rằng, tại một số nước Phi Châu hiện nay, vẫn còn áp dụng luật phong tục của các bộ lạc từ thời hoang sơ.

I. Hệ thống dân luật La Mã– Đức (The Romano–Germanic Civil Law System)

Đây là hệ thống luật pháp có lịch sử lâu đời nhất và cũng có ảnh hưởng nhiều nhất đến các hệ thống luật pháp khác. Hệ thống này thường được gọi là hệ thống Dân luật (Civil Law) hay hệ thống luật lục địa (Continental Law).

1. Lịch sử hình thành

Về phương diện lịch sử, hệ thống Dân luật xuất hiện từ năm 450 trước Tây lịch, khi La Mã áp dụng hệ thống luật được ghi trong “12 bảng luật”. Nhưng sự kiện có ý nghĩa nhất trong lịch sử phát triển của hệ thống Dân luật là công tác pháp điển (chọn lựa, sắp xếp, đơn giản hóa) tất cả luật pháp La Mã được thực hiện dưới thời Hoàng Đế Justinian (483 – 565). Sau khi được pháp điển, luật La Mã được mang tên Bộ Dân luật (tiếng La tinh: Corpus Juris Civilis), ban hành năm 534. Đây có thể xem là công trình luật pháp thành văn quan trọng đầu tiên của lịch sử loài người. Khi những bộ tộc Đức (Germanic) xâm lăng đế quốc phía Tây Châu Âu, một số qui định của luật La Mã đã được thay thế bằng luật bộ tộc Đức. Tuy nhiên, vì tinh thần của luật Đức là căn cứ vào yếu tố cá nhân, không căn cứ vào yếu tố lãnh thổ, nên dân chúng của đế quốc La Mã cũ cùng con cháu họ vẫn được phép sử dụng luật La Mã. Giáo hội Công giáo La Mã cũng góp phần quan trọng trong việc duy trì luật pháp La Mã cũ vì giáo luật, tức là luật dùng trong các Toà án của giáo hội, đã được xây dựng theo luật La Mã.

Vào thế kỷ thứ 11 và 12 (thường gọi là thời Trung cổ), khi tìm được nguyên văn Bộ Dân luật Corpus Juris Civilis, các học giả bắt đầu nghiên cứu và giải thích, hiện đại hóa những nội dung luật cũ cho phù hợp với tình hình xã hội thời đó . Nơi nổi tiếng nhất trong việc nghiên cứu, truyền bá Bộ dân luật La Mã này là các trường đại học ở vùng Bắc nước Ý trong đó nổi tiếng nhất là trường Đại học Bologna. Từ trường đại học này, các nhà luật học của các nước Châu Âu đã trở về nước của họ, gieo rắc tư tưởng và nội dung của Dân Luật La Mã. Họ mở trường luật ở Paris, Oxford, Prague, Heidelburg, Copenhague; họ làm luật sư cho giáo hội, cho các vua chúa, và cho các vùng lãnh thổ khắp Châu Âu. Nhờ cùng được đào tạo chung theo một nội dung , luật gia của các nước Châu Âu đã tạo nên những Bộ Dân Luật của nước họ xây dựng trên nền tảng chung là luật La Mã. Vào thời kỳ đầu của thời kỳ phục hưng thế kỷ 13 – 14) ở Châu Âu, người ta đã dùng thuật ngữ Jus Common (là luật chung) để chỉ luật của nước Châu Âu vì cùng có chung nền tảng là luật La Mã, giáo luật, cùng các lời giải thích, bình luận của các chuyên gia luật La Mã.

Vào thời Phục hưng, nên kinh tế Châu Âu cũng bắt đầu phát triển sau một thời gian dài trì trệ. Sự xuất hiện của các đô thị kéo theo sự thành lập chợ búa, hội chợ thương mại, ngân hàng; sự phát triển nhanh chóng của hàng hải và giao dịch thương mại đường dài đã mở ra những trung tâm thương mại lớn và nhu cầu phải có luật pháp điều chỉnh hoạt động kinh doanh. Cả Luật La Mã và Luật bộ tộc của Đức đều không đáp ứng được yêu cầu của hoạt động thương mại (luật La Mã thì chủ trương một đế quốc cai trị mọi người, luật bộ tộc Đức thì chỉ phù hợp với xã hội nông nghiệp). Do đó, các thương gia đã tự điều chỉnh hoạt động kinh doanh theo tập quán của họ, lập ra tòa án riêng (gọi là toà chân đất – pepoudrous court) để xét xử việc kinh doanh giữa họ với nhau theo tiêu chuẩn thực tế và công bằng. Sau một thời gian, những tập quán, qui tắc này được các tòa án của Nhà nước và giáo hội chấp nhận, gọi là luật của thương gia (Law Merchant); được xem là luật quốc tế áp dụng trong kinh doanh qua biên giới các quốc gia. Những nội dung của luật thương gia cũng vượt biển qua áp dụng ở Anh, tuy rằng từ trước đó, Anh quốc đã không chấp nhận luật La Mã. Nhiều qui định của luật thương gia ngày xưa hiện nay đã được chấp nhận, đưa vào Công ước của Liên Hiệp Quốc về bán hàng quốc tế (CISG) năm 1980.

Đến thế kỷ 16 và 17, trung tâm của luật học châu Âu được chuyển đến Pháp và Hà Lan. Với tinh thần khoa học sáng suốt và ý thức quốc gia, giới luật học châu Âu đã tập trung nổ lực để xây dựng nền luật pháp quốc gia theo tinh thần của luật La Mã cũ, mà theo họ không phải là do một quyền lực cao siêu nào đặt ra, mà chỉ là những lẽ phải tự nhiên (Universal law of nature). Hai bộ luật quốc gia có giá trị của thời này là Bộ Dân Luật Pháp năm 1804 và Bộ Dân Luật Đức năm 1896 . Bộ dân Luật Pháp được đề cao và mô phỏng ở Hà Lan, Bỉ, Ba Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, La Tinh America, Phi Châu, Nam Sa mạc Sahara, Đông dương, và Indonesia. Bộ Dân Luật Đức thì được theo ở Ao, Tiệp Khắc, Hy Lạp, Hungary, Thụy Sĩ , Nam Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật, Hàn Quốc.

2. Đặc điểm của Dân Luật Pháp

Bộ Dân Luật Pháp thường được gọi là Bộ Luật Napoléon do vai trò lãnh đạo quan trọng của vị Hoàng Đế này đối với công việc soạn thảo. Nội dung của Bộ Dân luật này phản ánh những tư tưởng cơ bản của cuộc Cách Mạng Pháp 1789: quyền tư hữu, tự do ký kết hợp đồng và gia đình theo chế độ phụ hệ. Bộ Luật này cũng cố ý phá vỡ chế độ phong kiến bằng cách hạn chế diện tích đất đai mua bán, di chúc và thừa kế.

Đặc điểm thứ hai của Bộ Dân Luật Pháp là rõ ràng, trong sáng, dễ đọc và dễ hiểu đối với tất cả mọi người.

Đặc điểm thứ ba là các nhà soạn luật đã nhận thức rằng họ không thể nào dự liệu được mọi khả năng xảy ra; do đó, họ chỉ đưa ra những nguyên tắc tổng quát chứ không đưa ra những qui định cụ thể.

3. Đặc điểm của Dân Luật Đức

Bộ Dân luật Đức được ban hành sau Bộ luật của Pháp sau gần một thế kỷ. Một phần là do nước Đức được thành lập trễ, một phần khác là do sự làm việc quá mức cẩn thận của nhóm các nhà luật học Đức do Frederick Carl Von Savigny (1779 – 1869) lãnh đạo (kéo dài việc nghiên cứu hơn 20 năm).

Đặc điểm của Bộ Dân luật Đức là căn cứ sít sao theo bộ luật La Mã Corpus Juris Civilis về tinh thần cũng như cách sắp xếp. Văn phong của Bộ Luật Đức có ưu điểm là chính xác và kỹ thuật. Họ cũng sáng chế ra nhiều thuật ngữ đặc biệt về pháp lý để sử dụng trong luật. Mỗi khái niệm pháp lý đều được định nghĩa và dùng một cách nhất quán trong suốt Bộ luật. Về kỹ thuật lập pháp, nhà làm luật luôn luôn dùng cách tham chiếu lẫn nhau giữa các điều nên giúp cho bộ luật trở thành ngắn gọn, và là một thể thống nhất, hợp lý. Khác với bộ Dân luật Pháp muốn trở thành một quyển cẩm nang pháp luật cho mọi người, bộ Dân luật Đức được soạn thảo theo tinh thần sách chuyên dùng cho giới chuyên môn.

4. Tóm tắt về hệ thống Dân Luật

Tuy khác nhau về văn phong và kỹ thuật lập pháp, cả hai bộ luật này tương đồng nhau nhiều hơn là dị biệt. Cả hai đều căn cứ vào luật La Mã , nhất là phần nói về nghĩa vụ và cấu trúc của bộ luật. Cả hai cũng dựa vào những tư tưởng chính trị và triết học giống nhau, cụ thể là hoạt động kinh doanh tự do và quyền tự chủ của mỗi cá nhân.

Hệ thống dân luật còn phân biệt giữa Công pháp và Tư Pháp. Luật tư pháp là luật pháp chứa đựng trong bộ Dân Luật và các bộ luật phụ thuộc vào bộ Dân luật như luật về cá nhân (hộ tịch), luật gia đình, luật sở hữu, luật thừa kế, luật nghĩa vụ, luật thương mại, luật lao động và luật hình. Ngược lại với các luật này là các luật công (Công pháp) như luật Hiến pháp, luật Hành chính. Trong thực tế, các nước theo hệ thống dân luật cũng không có quan điểm thống nhất về công pháp. (Ví dụ ý kiến khác nhau về luật hình sự và luật Hiến pháp).

Từ cuối thế kỷ thứ 20, các nước theo hệ thống dân luật đã có nhiều thay đổi. Ví dụ không còn chỉ dựa đơn thuần vào Bộ Dân luật , mà ở các nước này, các án lệ, các văn bản dưới luật, các nghiên cứu học lý tư pháp cũng đã được xem là những nguồn luật quan trọng. Các bộ dân luật cũng được bổ sung, sửa đổi; nhất là ở Đức.

II. Hệ thống luật chung của Anh – Mỹ

1. Lịch sử

Nguồn gốc của hệ thống luật này bắt đầu từ năm 1066 khi người Normans xâm chiếm Anh quốc và Hoàng Đế William bắt đầu tập trung quyền lực vào tay triều đình mới. Thuật ngữ luật chung (Common Law) xuất phát từ quan điểm cho rằng các tòa án do nhà vua lập ra, áp dụng các tập quán chung (Common Custom) của vương quốc, trái ngược với những tập tục luật pháp địa phương áp dụng ở các miền hay ở các tòa án của điền trang, thái ấp phong kiến.

Các nguyên tắc bền vững của luật chung đã được tạo ra bởi ba tòa án được vua Henri II (1133 – 1189) thành lập. Đó là Tòa án Tài chính (Court of Exchequer) để xét xử các tranh chấp về thuế. Tòa án thỉnh cầu Phổ thông (Court of Common Pleas) đối với những vấn đề không liên quan trực tiếp đến quyền lợi của nhà vua; và Tòa án Hoàng Đế (Court of the King’s Bench) để giải quyết những vụ việc liên quan trực tiếp đến quyền lợi của Hoàng gia, ví dụ việc ban hành những sắc lệnh kiểm tra các quan chức ươn ngạnh. Nguyên thủy, Tòa án Hoàng Đế có thẩm quyền kiểm tra sự lạm quyền của chính nhà vua, từ đó hình thành ra nguyên tắc căn bản của luật chung là sự tối thượng của pháp luật (Supremacy of the law). Ngày nay nguyên tắc này không phải chỉ áp dụng cho vua, mà mọi hành vi của chính quyền đều có thể bị đưa ra xét xử trước tòa án.

2. Đặc điểm

Đặc điểm cơ bản của hệ thống luật chung là dựa trên những phán quyết theo tập quán của tòa án, và bản thân thuật ngữ luật chung cũng thường được dùng khi muốn nói đến việc pháp luật Anh quốc không căn cứ vào văn bản luật. Cơ sở của luật chung là các phán quyết của tòa án, thường được gọi là tiền lệ; đây là đặc điểm cơ bản chủ yếu để phân biệt hệ thống luật này với hệ thống Dân luật của La Mã – Đức quốc.

Mặt hạn chế của hệ thống luật chung trước đây là tinh cứng rắn, kém linh hoạt. Về nội dung cũng như về thủ tục, các tòa án chỉ theo đúng những gì mà tiền lệ đã làm, nên không thích nghi được với những tình huống phức tạp mới mẻ. Vì vậy, tại Anh quốc, bên cạnh các luật chung còn có lẽ công bằng tự nhiên (equity) được áp dụng khi luật chung không có. Tình hình này tồn tại cho đến tận thế kỷ 19. Năm 1848, tại New York (Mỹ), một bộ luật tố tụng dân sự được ban hành, bắt buộc mọi việc kiện đều phải theo cùng một thủ tục. Bộ luật này sau đó được chính quyền liên bang và các tiểu bang ở Mỹ chấp nhận. Ở Anh , Đạo luật Tư pháp (Judicature Act) năm 1873 cũng qui định sự kết hợp giữa luật chung với các qui định của lẽ công bằng.

Sự phát triển của hệ thống luật chung ra khắp thế giới cũng khác với cách thức phát triển của hệ thống dân luật. các nước theo hệ thống luật chung đều có mối quan hệ chính trị trực tiếp với nước Anh như Úc, Canada, An độ, Ireland, Tân Tây Lan, và Hoa Kỳ.

3. So sánh hai hệ thống

Nếu so sánh giữa hai hệ thống luật, hệ thống dân Luật có nhiều ưu điểm hơn. Hệ thống dân luật dựa chủ yếu vào các bộ luật, tiện để nắm hiểu đối với mọi người. Nó cũng đề cập trực tiếp và chủ yếu đến tư nhân, ít liên quan đến hệ thống chính trị. Trong lúc đó, hệ thống luật chung là một ma trận pha trộn giữa án lệ với văn bản, người xét xử chủ yếu là Bồi Thẩm Đoàn (Jury), nguyên tắc tối thượng của luật pháp lại hạn chế hoạt động của chính quyền, và thuật ngữ pháp luật lại rất phức tạp.

III. Hệ Thống Luật Islam giáo (Islamic law)

1. Giới thiệu

Cho đến năm 2000 trong 4 người dân trên thế giới thì có 1 người theo Islam giáo. Phần lớn sống trong các nước ở Trung Đông, Bắc Phi, và Nam Á. Islam giáo là quốc giáo của Saudi Arabia, Qatar, các Tiểu vương Ả rập thống nhất, Oman, Yemen, Syria, Jordan, Kuwait, Iran, Iraq, Afghanistan, Pakistan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Sudan, Somalia, Libya, Algeria, Tunisia, Niger, Mali, Marốc, Mauritania, Bangaladesh, Malaysia, và Indonesia. Luật Islam giáo là nguồn luật chính của Saudi Arabia và được chấp nhận trong những chừng mực khác nhau, ở các nước khác vừa kể.

2. Đặc điểm

Hệ thống pháp luật Islam giáo được gọi là Shari’a, theo tiếng Á Rập có nghĩa là Luật học hay pháp luật. Nội dung của luật Islam giáo được lấy từ 4 nguồn, xếp theo thứ tự quan trọng là: (1) Kinh Koran, (2) Sunnah, tức là các lời dạy của Tiên tri Muhammad, (3) các bài viết của học giả Islam giáo giải thích và rút ra các qui định từ trong kinh Koran và trong Sunnah, và (4) các điều được cộng đồng thừa nhận về mặt pháp lý.

Ba thế kỷ sau khi thành lập đạo Hồi (thế kỷ 10), giới luật gia Islam giáo phán quyết rằng không còn có cách nào để bổ sung các giải thích về pháp luật thiêng liêng của Islam giáo. Kể từ lúc đó họ tuyên bố “đóng cửa” đối với mọi cố gắng để tư duy độc lập về luật pháp Islam giáo. Điều này có nghĩa là cho đến bây giờ giới luật gia Islam giáo chỉ có việc phán xử theo những nội dung luật pháp đã được định hình từ hơn 1000 năm trước. Họ không thể thay đổi, giải thích rộng hay bổ sung những qui định đã có. Dĩ nhiên là việc “đóng cửa” không cho tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung luật Islam giáo khiến cho nhiều vụ việc trở nên khó xét xử vì trước đây hàng ngàn năm chưa hề có. Nhiều nhà Lãnh đạo trong thế giới Islam giáo như vua Fahad của nước Saudi Arabia đã nhiều lần đề nghị bỏ lệnh đóng cửa, nhưng điều này cũng không được nhiều nhà lãnh đạo Islam giáo như Giáo chủ Khomeini của Iran đồng ý.

Đặc điểm nổi bật của luật Islam giáo là qui định có tính chất đạo đức, ít có qui định về thương mại hoặc quan hệ giữa các quốc gia. Mặc dù vậy, cũng có một số nguyên tắc pháp luật của hệ thống Dân luật và hệ thống luật chung. Ví dụ trong dân luật 1953 của Libya, có nói đến việc áp dụng tập quán, luật tự nhiên, lẽ công bằng như trong hệ thống dân luật và luật chung./.

Án Lệ Trong Civil Law và Luật Thành Văn Trong Common Law

1. Dòng họ Civil Law có xu hướng coi trọng án lệ

Civil Law là dòng họ coi trọng lý luận pháp luật, có trình độ hệ thống hóa, pháp điển hóa cao với Bộ luật dân sự ra đời rất sớm và đồ sộ. Đại diện cho dòng họ này có thể kể đến Pháp, Đức, Ý… Tiền lệ pháp luật không được coi trọng. Ở Đức, án lệ trước đây không được coi là nguồn luật của hệ thống này; Tòa án không có quyền lập pháp mà chỉ có quyền áp dụng pháp luật vào những trường hợp cụ thể. Ngược lại, pháp luật thành văn có vị trí quan trọng.

Trong xu hướng hội tụ, các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Civil Law sẽ ngày càng coi trọng phán quyết của tòa án. Điều này thể hiện ở hai vấn đề:

1, Từ thế kỷ XIX, cơ chế bảo hiến đã ra đời, dó đó đã tồn tại các tổ chức bảo hiến (ở Đức là Tòa án bảo hiến). Chính vì thế, phán quyết của tổ chức bảo hiến có tính chất ràng buộc đối với các tòa án cấp dưới. Tại Đức, Tòa án bảo hiến liên bang và Tòa án cấp liên bang khác có toàn quyền trong việc xây dựng án lệ. Tòa án cấp dưới có nghĩa vụ phải thực hiện án lệ của các tòa án này, nếu không bản án của họ có thể bị giám đốc thẩm.

2, Trong quá trình xét xử, để đảm bảo sự thống nhất trong việc xét xử, đảm bảo tính đúng đắn về chuyên môn nghiệp vụ cũng như thể hiện sự tôn trọng phán quyết của tòa cấp trên, tòa cấp dưới luôn có xu hướng tham khảo những bản án đã được tuyên, căn cứ vào đó để đưa ra quyết định cho vụ án cụ thể của mình. Các phán quyết của Tòa án rất hay quy chiếu đến các phán quyết đã tuyên trước đó. Đây cũng có thể coi là những biểu hiện của việc sử dụng án lệ trong hệ thống pháp luậ của các nước thuộc dòng họ Civil Law.

Ngày nay, án lệ tại Đức đã được công nhận; trong một số trường hợp, luật

thành văn quy định không rõ ràng hay không có quy định thì tòa án có thể đưa ra nguyên tắc giải quyết, nếu đáp ứng được một số điều kiện nhất định thì nguyên tắc đó sẽ trở thành pháp luật.

2. Dòng họ Common Law có xu hướng coi trọng pháp luật thành văn

Với dòng họ này, phần lớn các chế định và quy phạm pháp luật được hình thành bằng án lệ. Thẩm phán vừa là người xét xử vừa là người sáng tạo ra pháp luật một cách gián tiếp, vừa có quyền giải thích pháp luật. Tiêu biểu cho dòng họ Common Law là Anh, Mỹ, Canada, Úc… Án lệ có vị trí rất quan trọng, ví dụ như khi Nghị viện Anh giành được quyền lực tối cao, luật – tác phẩm của nghị viện có hiệu lực cao hơn cả các quy tắc Common Law và Equity, có thể sửa đổi các nguyên tắc đó; tuy nhiên do hai hệ thống này đã có một uy tín rất lớn cho nên các nhà làm luật chỉ sửa đổi, củng cố chúng mà thôi. Trên nguyên tắc, khi tham gia vào các Hiệp ước của khu vực, điều ước quốc tế thì những văn bản này có hiệu lực cao hơn; tuy nhiên, thực tế, các nhà làm luật có thể ban hành bất kỳ đạo luật nào để thay đổi những quy định đó trên cơ sở Common Law và Equity để áp dụng đối với nước mình.

Trong xu hướng hội tụ, dòng họ Common Law sẽ ngày càng coi trọng, sử dụng nhiều luật thành văn, văn bản luật, có thể dưới hình thức các bộ pháp điển và hiến pháp thành văn.

Ví dụ, ở Anh, từ thế kỷ XX nhiều xáo trộn, luật thành văn đã có xu hướng phát triển. Luật được soạn thảo theo một tư tưởng rất mới, khác nhiều so với nguyên tắc Common Law.

Khi gia nhập cộng đồng chung châu Âu EEC, nay là EU, và cũng là thành viên của Liên hợp quốc, Nghị viện Anh đã tiếp nhận các điều ước quốc tế và các quy định pháp luật của Liên minh châu Âu (VD: Luật năm 1972, Công ước về nhân quyền) – theo truyền thống luật La mã – vào trong hệ thống pháp luật Anh, bằng hình thức áp dụng trực tiếp các văn bản đó hoặc nội luật hóa. Về nguyên tắc, trong trường hợp xung đột pháp luật thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế hoặc của Liên minh.

Một nguyên nhân khác có thể kể đến của việc hệ thống pháp luật Anh càng ngày càng coi trọng pháp luật thành văn đó là Thượng Nghị viện càng ngày càng mong muốn khẳng định vai trò của mình – cơ quan quyền lực tối cao của vương quốc. Các quy tắc Common Law và Equity của Tòa án Anh ngày càng tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong việc kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của các cơ quan hành chính.

Xu hướng hội tụ càng thể hiện rõ nét hơn ở Mỹ. Nguồn gốc của người Mỹ là từ Anh di cư sang, bản thân họ vốn đã không thích theo mô hình pháp luật phức tạp của Anh. Ngay từ ngày đầu thành lập Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, người Mỹ đã cho ra đời bản Hiến pháp đầu tiên của thế giới – một văn bản pháp luật có giá trị pháp lý tối cao đối với người Mỹ, trong khi ở Anh chỉ có hiến pháp không thành văn.

Tại Mỹ, do bộ máy tư pháp được tổ chức theo mô hình ít tập trung ở cấp TW hơn ở Anh và do nhu cầu phải thường xuyên cải cách hệ thống pháp luật, Tòa án Mỹ sẵn sàng hạn chế phạm vi hiệu lực của một tiền lệ, thậm chí có thể đưa ra một quy tắc hoàn toàn ngược lại nếu thấy cần thiết.

Hệ thống pháp luật thành văn của Mỹ rất phát triển. Mỹ, với rất nhiều nhà lập pháp có trình độ cao, đã cho ra đời rất nhiều bộ luật và đạo luật có giá trị thực tiễn và có tính ổn định cao.

ở các bang, hệ thống pháp luật thành văn giữ một vị trí quan trọng vì các quy tắc Common Law không có hiệu lực lớn như ở Anh, Nghị viện các bang rất tích cực và các bang có thẩm quyền lập pháp rất rộng. Những bất cập do sự phân tán của hệ thống pháp luật thành văn cũng đã được hạn chế nhờ có các dự luật mẫu. Ví dụ: Dự thảo mẫu Bộ luật thương mại thống nhất (Uniform Commercial Code) đã được tất cả các bang thông qua, kể cả bang Louisiane với những điểm không khác nhau đáng kể về nội dung. Đối với phạm vi liên bang, cần thiết phải xây dựng một hệ thống pháp luật kinh tế thống nhất, hệ thống pháp luật lao động và cơ chế bảo đảm các quyền tự do của công dân có hiệu lực ở tất cả các bang.

Hệ thống Common Law và Civil Law đang có khuynh hướng xích lại gần nhau do sự phát triển của hoạt động lập pháp và sự hạn chế dần vài trò của tiền lệ pháp ở các nước thuộc hệ thống Common Law, do quá trình hòa nhập kinh tế giữa các nước trong khuôn khổ EEC, nay là Liên minh Châu Âu EU 5 và toàn thế giới.

Có thể nói, các hệ thống pháp luật của hai dòng họ càng ngày càng có nhiều điểm ảnh hưởng, học tập nhau, thể hiện rõ xu hướng hội tụ: Pháp luật của Scốt- len trước khi nhập vào Anh đã từng theo mô hình pháp luật La Mã; hiện nay, pháp luật của Scốt-len vẫn giữ nhiều nét đặc thù của hệ thống pháp luật này. Ngược lại, pháp luật bang Kê-bếch (Canada) và bang Louisiane (Mỹ) theo truyền thống pháp luật La Mã nhưng đã chịu ảnh hưởng rất lớn của hệ thống pháp luật Anh- Mỹ đang được sử dụng ở các bang còn lại ở nước này. Ngoài ra, một số nước Châu Phi và Châu Á như: Nam Phi, Nhật Bản… lại có xu hướng chịu ảnh hưởng đồng thời cả hai mô hình luật La Mã và luật Anh- Mỹ đối với một số quy phạm và một số chế định pháp luật nước mình.

Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy xu hướng hội tụ của hai dòng họ pháp luật Civil law và Common Law. Sự hội tụ này là một xu hướng tất yếu trong quá trình vận động, tiếp biến và học hỏi nhau. Mỗi dòng họ sẽ phát huy được những thế mạnh của mình đồng thời khắc phục được những hạn chế của mình. Đó là cơ sở cho một hệ thống pháp luật toàn thế giới phát triển./.