ÁN LỆ MỸ
Vai trò của án lệ trong pháp luật Mỹ:
Cũng như nước Anh, Mỹ là nước coi trọng những quy tắc pháp lý chứa đựng trong các án lệ do thẩm phán làm ra. Ở Anh, pháp luật thành văn chỉ là sự bổ sung cho những lĩnh vực mà án lệ chưa điều chỉnh đến. Ở đất nước này, án lệ chiếm một tỷ trọng gần như tuyệt đối so với pháp luật thành văn. Pháp luật thành văn mới chỉ được thừa nhận tại Anh khá muộn (bắt đầu từ thế kỷ XIX) và nó ra đời chỉ nhằm điều chỉnh một số lĩnh vực nhỏ hẹp mà án lệ không điều chỉnh tới. Còn ở Mĩ, tỷ trọng án lệ so với pháp luật thành văn không cao bằng pháp luật Anh. Bởi ngay từ khi xây dựng hệ thống pháp luật cho mình người Mỹ có cái nhìn hoàn toàn khác về pháp luật thành văn so với người Anh, Mỹ lại có những điều kiện để thực hiện việc ban hành các đạo luật thành văn.
+ Án lệ của Mỹ thường được coi như một phương pháp, cách thức giải thích luật. Điều này có nghĩa là những quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành chưa thể coi là những quy phạm thực sự nếu chúng chưa được các tòa án áp dụng và lý giải nhiều lần và lúc đó người ta sẽ tìm đến những quyết định của tòa án đã áp dụng chúng, chứ không phải bản thân các quy phạm đó . Thậm chí trong trường hợp không có án lệ, luật gia Mỹ sẵn sàng nói: “Trong trường hợp này pháp luật im lặng”, ngay cả khi có một quy phạm hoàn toàn rõ ràng liên quan đến vấn đề.
+ Án lệ của Mỹ còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải thích Hiến pháp và trong cơ chế bảo Hiến.
Án lệ của pháp luật Mỹ là án lệ liên bang và án lệ bang:
+ Đối với án lệ liên bang: Được tạo ra bởi tòa án liên bang khi xem xét các vụ việc dựa trên pháp luật liên bang. Đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử của liên bang nhưng lại thuộc thẩm quyền lập pháp của bang thì không có án lệ liên bang trong trường hợp này. Theo Michael Bogdan thì không có án lệ liên bang trong những lĩnh vực hoàn toàn thuộc về thẩm quyền của các bang . Tuy nhiên, điều này không ngăn cản tòa án các bang
+ Án lệ bang: Được tạo ra bởi cả tòa án bang và liên bang. Tòa án liên bang tạo ra án lệ cho bang khi xét xử những vụ việc thuộc thẩm quyền lập pháp của bang. Khi xét xử, tòa án bang phải dựa vào luật tuyên bố của các bang (án lệ, pháp luật thành văn). Thậm chí, ngay cả khi pháp luật của bang không quy định hoặc quy định không rõ ràng thì các thẩm phán liên bang cũng phải đặt mình vào vị trí của thẩm phán bang để xem xét đối với tình huống như vậy thì thẩm phán bang sẽ quyết định như thế nào;Tòa án bang tạo ra án lệ khi các vấn đề phát sinh thuộc thẩm quyền lập pháp và xét xử của bang. Đối với những vấn đề thường chỉ mang tính chất địa phương thì phán quyết của tòa án tối cao bang thường có giá trị chung thẩm.
Hình thức, kết cấu và việc giải quyết mối quan hệ giữa án lệ và pháp luật thành văn trong mối tương quan giữa pháp luật Mỹ và pháp luật của Anh:
Về hình thức và kết cấu cũng như việc giải quyết mối quan hệ giữa án lệ và pháp luật thành văn, về cơ bản thì cả hai nước đều giống nhau. Tuy nhiên, về mặt nội dung của án lệ thì có một số khác biệt trong lĩnh vực công .
+ Trong lĩnh vực luật công: Do hình thức chính thể và bản chất nhà nước của Mỹ không giống với Anh nên những quy định trong lĩnh vực này thường có nhiều điểm khác biệt hơn là tương đồng.
+ Trong lĩnh vực luật tư: Vào thời kỳ đầu lập quốc, trong khi kinh tế Mỹ chưa phát triển thì Anh đã là một trong số ít cường quốc về kinh tế. Do đó, trong lĩnh vực này, pháp luật tiếp thu rất rộng rãi các chế định luật trong lĩnh vực luật tư của Anh như: Các chế định về hợp đồng, ủy thác, hàng hải…
Quy tắc vận hành án lệ
Án lệ của Mỹ được vận hành theo chiều dọc, tức là án lệ của tòa án cấp trên sẽ có giá trị ràng buộc đối với tòa án cấp dưới mà không có sự vận hành theo chiều ngang. Trong khi đó, án lệ của Anh thì được vận hành cả theo chiều dọc và chiều ngang. Nếu theo chiều dọc thì án lệ của tòa án cấp trên có giá trị bắt buộc với tòa án cấp dưới, mà cụ thể: Án lệ của Thượng nghị viện (House of Lords) có giá trị bắt buộc đối với tất cả các tòa trừ Thượng nghị viện, án lệ của tòa phúc thẩm (Court of appeal) có giá trị đối với tất cả các tòa án cấp dưới thuộc quyền phúc thẩm của tòa án này, án lệ của tòa cấp cao (High court of justice) có giá trị bắt buộc đối với tòa án cấp dưới; Còn theo chiều ngang thì án lệ có giá trị ràng buộc đối với chính các tòa án tạo ra nó, nghĩa là án lệ của tòa phúc thẩm sẽ có giá trị ràng buộc với chính tòa này ;
Nguyên tắc “Stare decisic”:
Hệ thống pháp luật Mỹ về cơ bản vẫn bắt nguồn từ thông luật của Anh, cho nên nguyên tắc cơ bản của pháp luật vẫn là nguyên tắc tuân thủ án lệ của Tòa án (Stare Decisis). Bản chất của nguyên tắc này là khi xem xét các vụ án thì buộc các Tòa án phải tuân thủ các quyết định xét xử đã được đưa ra trước đây về các vụ án tương tự. Tuy nhiên, ở Mỹ thì nguyên tắc tuân thủ án lệ có những đặc trưng riêng của mình. Chẳng hạn như thực tiễn xét xử có đặc trưng là áp dụng mềm dẻo nguyên tắc đó, làm cho nguyên tắc đó thích nghi với các điều kiện chính trị và kinh tế, xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển lịch sử của đất nước. Nghĩa là, nguyên tắc “stare decisis” của Mỹ mềm dẻo và linh hoạt hơn ở Anh.
+ Nguyên tắc này ra đời và được áp dụng triệt để tại Anh từ thế kỉ XIX (từ 1966 Thượng nghị viện không chịu ràng buộc theo nguyên tắc trên).
+ Các luật gia Mỹ vẫn nhận thấy tầm quan trọng của nguyên tắc này trong việc đảm bảo tính ổn định của án lệ song chính nó cũng sẽ trói buộc thẩm phán làm cho án lệ trở nên cứng nhắc, không thể đáp ứng kịp được những thay đổi của nền kinh tế xã hội ở mỗi giai đoạn phát triển lịch sử của đất nước. Đặc biệt, Tòa án tối cao khẳng định rằng kết quả xét xử của một vụ phụ thuộc nhiều vào chính sách chung, quan điểm cá nhân của người thẩm phán về vấn đề đang giải quyết và ở thời điểm giải quyết vụ việc hơn là án lệ đã có trước đó. Trên thực tế, chỉ có tòa án tối cao liên bang và tòa án tối cao của các bang mới thay đổi quan điểm xét xử của mình nhưng không diễn ra thường xuyên.
=> Chính lẽ đó mà hệ thống án lệ Mỹ vừa có tính ổn định vừa có tính linh hoạt, khiến cho vai trò của án lệ mang tính tích cực hơn án lệ của Anh.
Kết luận:
+ Án lệ của Hoa Kỳ phát triển độc lập với thông lệ của Anh và có vai trò quan trọng trong pháp luật Hoa Kỳ;
+ Án lệ của Mỹ là án lệ của bang và án lệ liên bang;
+ Án lệ của Mỹ được vận hành theo chiều dọc, tức là án lệ của tòa án cấp trên sẽ có giá trị ràng buộc đối với tòa án cấp dưới mà không có sự vận hành theo chiều ngang.
+ Án lệ của Mỹ vừa có tính ổn định, vừa có tính linh hoạt nên vai trò của án lệ tích cực hơn so với án lệ Anh.
 Pháp luật thành văn:
Số lượng văn bản pháp luật thành văn ở Mỹ đồ sộ hơn của Anh nhiều lần:
+ Pháp luật thành văn được coi trọng ngay từ khi người Mỹ xây dựng hệ thống pháp luật cho mình và đặc biệt phát triển sau khi nước Mỹ giành được độc lập và Hiến pháp Mỹ ra đời. Thời kỳ đầu, sau khi giành được độc lập, việc ban hành pháp luật thành văn được coi như một hành động chối bỏ thông luật Anh.
Câu hỏi thảo luận:
Tại sao pháp luật thành văn ở Mỹ lại giữ vị trí quan trọng trong hệ thống nguồn luật của bang và liên bang?
Gợi ý trả lời:
Sở dĩ pháp luật thành văn ở Mỹ giữ vị trí quan trọng ở bang là vì:
+ Các quy tắc Common law có hiệu lực không bằng ở Anh;
+ Nghị viện các bang rất tích cực trong việc bang hành các đạo luật;
+ Các bang có thẩm quyền lập pháp rộng;
+ Những bất cập do sự phân tán của hệ thống pháp luật thành văn cũng được hạn chế nhờ các dự luật mẫu
Pháp luật thành văn giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống nguồn luật ở liên bang là vì:
+ Cần thiết phải xây dựng một hệ thống pháp luật kinh tế thống nhất trên toàn lãnh thổ liên bang;
+ Mong muốn thiết lập một hệ thống pháp luật lao động và cơ chế bảo đảm các quyền tự do của công dân có hiệu lực ở tất cả các bang .
Mức độ pháp điển hóa:
Chính khối lượng đồ sộ của pháp luật thành văn của Mỹ đã làm cho công tác pháp điển hóa của Mỹ được coi trọng hơn ở Anh. Mặc dù cách thức tiến hành của Mỹ tương đối giống với Anh nhưng phạm vi pháp điển hóa ở Mỹ thì rộng hơn của Anh rất nhiều. Ở nhiều bang đã ban hành được bộ luật dân sự, bộ luật hình sự, bộ luật tố tụng dân sự, bộ luật tố tụng hình sự và đều có hiến pháp thành văn. Liên bang đã có nhiều bộ pháp điển tập hợp được các đạo luật đơn hành (slip law) của Quốc hội theo những chủ đề nhất định, Bộ luật Thương mại Mỹ có thể được coi là thành tựu pháp điển hóa ở cấp độ liên bang.
Tuy nhiên, cả trình độ cũng như mức độ pháp điển hóa của pháp luật Anh và pháp luật Mỹ đều không cao hơn so với hệ thống pháp luật châu Âu lục địa:
+ Nếu như ở các nước thuộc hệ thống châu Âu lục địa, kết quả pháp điển hóa luôn cho ra đời những quy phạm pháp luật mới, thống nhất điều chỉnh một nhóm những mối quan hệ xã hội nhất định, xác định sự phân cấp nguồn luật một cách rõ ràng trong đó án lệ chỉ được coi là một nguồn bổ sung, giải thích thêm cho pháp luật thành văn chứ không tạo ra những nguyên tắc pháp lý mới.
+ Đối với Mỹ, pháp điển hóa còn mang nặng tính tập hợp hóa. Tức là công tác pháp điển hóa của Mỹ phần nhiều là sự tập hợp các đạo luật đơn hành do cơ quan lập pháp hay những văn bản dưới luật do cơ quan hành pháp ban hành .
+ Về mặt phạm vi, do ở Mỹ cũng như ở Anh có sự tồn tại của pháp luật án lệ bên cạnh pháp luật thành văn do đó công tác pháp điển hóa sẽ gặp nhiều khó khăn khiến cho việc thống nhất các quy định về cùng một vấn đề chứa đựng trong các bản án do thẩm phán tạo ra và các quy định do nhà lập pháp ban hành. Do đó, phạm vi pháp điển hóa của các nước này hẹp hơn phạm vi của các nước theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa.
Hệ thống pháp luật thành văn của Mỹ bao gồm hai thể loại:
+ Các đạo luật liên bang: Do Quốc hội liên bang thông qua và được ban hành với sự tán thành rõ ràng hay mặc nhiên của Tổng thống (hoặc, trong trường hợp đặc biệt, nếu Tổng thống phủ quyết thì có thể tiến hành bỏ phiếu một lần nữa tại hai Viện và phải được ít nhất hai phần ba tổng số nghị sĩ tán thành);
+ Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo cơ chế ủy quyền: Căn cứ vào sự ủy quyền lập pháp của Quốc hội cho Tổng thống hoặc một cơ quan quản lý hành chính độc lập với Tổng thống (như Ủy ban liên bang phụ trách vấn đề thương mại giữa các bang hay Văn phòng quan hệ lao động quốc gia).
Pháp luật thành văn của Mỹ bao gồm cả pháp luật thành văn của liên bang và pháp luật thành văn của bang:
+ Ở cấp Liên bang bao gồm: Hiến pháp, Điều ước quốc tế, các đạo luật của quốc hội, các văn bản dưới luật của cơ quan hành pháp;
+ Ở cấp độ bang bao gồm: Hiến pháp, các đạo luật do cơ quan hành pháp ban hành, các văn bản dưới luật do cơ quan hành pháp ban hành.
Mỹ tồn tại hiến pháp thành văn ở cả liên bang và các bang trong khi ở Anh chỉ có hiến pháp bất thành văn:
Điều VI hay còn gọi là điều khoản tối cao Mỹ quy định:“Hiến pháp này, các đạo luật của Hoa Kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi điều ước đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ là luật tối cao của quốc gia. Quan tòa tại cá bang đều phải tuân theo những luật này, bất cứ một điều gì trong Hiến pháp hoặc luật của các bang mà trái ngược với Hiến pháp của liên bang đều không có giá trị”. Theo quy định này:
+ Hiến pháp Liên bang là đạo luật tối cao của quốc gia, cao hơn mọi văn bản pháp luật của cả bang và Liên bang,
+ Pháp luật của Liên bang có hiệu lực pháp lý cao hơn pháp luật của bang.
Trong khi đó, ở Anh, hiến pháp được coi là tập hợp các luật như: Luật tổ chức Nghị viện, Luật thừa kế ngai vàng, Luật tổ chức chính phủ và một số án lệ liên quan đến việc đảm bảo các quyền tự do cơ bản cảu công dân và hạn chế sự lạm dụng quyền lực từ của chính quyền. Chính quan niệm như vậy về hiến pháp nên nước Anh không có sự phân chia hệ cấp văn bản giữa hiến pháp và các luật thông thường. Khi có xung đột giữa hiến pháp và luật thì áp dụng nguyên tắc văn bản áp dụng sau sẽ có ưu thế hơn, còn nếu hiến pháp xung đột với luật của Liên minh châu Âu thì áp dụng luật của cộng đồng châu Âu.
Kết luận:
Như vậy, pháp luật thành văn của Anh và của Mỹ về cơ bản là khác nhau hoàn toàn:
+ Số lượng văn bản pháp luật thành văn: Pháp luật thành văn ở Mỹ nhiều hơn ở Anh.
+ Mức độ pháp điển hóa của Mỹ được coi trọng hơn ở Anh.
+ Ở Mỹ tồn tại Hiến pháp ở cả liên bang, các bang và đó là Hiến pháp thành văn. Hiến pháp thành văn của Mỹ là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất. Trong khi đó, ở Anh chỉ có Hiến pháp bất thành văn và giá trị pháp lý của nó không phải là một đạo luật tối cao.