Tags

, ,

BÁO CÁO VỀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN KHẢO SÁT VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN KHÓA 32, NIÊN KHÓA 2007 – 2011
(Khảo sát tính đến tháng 6/2012)
( xem chi tiết báo cáo tại trang chủ của hcmulaw)
1. Quá trình tiếp nhận và xử lý số liệu: Thông qua thời gian gửi phiếu khảo sát từ tháng 10/2011 đến 20/6/2012 với hơn 850 phiếu khảo sát, kết quả đã có 583/850 (65,58%) sinh viên khóa 32 tốt nghiệp Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và 35 sinh viên các lớp Chất lượng cao đã thực hiện khảo sát. Theo kết quả phân tích phiếu khảo sát thì có 48% sinh viên là nam và 52% sinh viên là nữ thực hiện khảo sát. Điều này cũng phù hợp với thực tế là tỷ lệ nữ học tại trường và tốt nghiệp đều đông hơn tỷ lệ nam.

2. Số lượng sinh viên tham gia thực hiện khảo sát theo chuyên ngành được đào tạo: Theo kết quả thống kê thì số lượng sinh viên theo khoa chuyên ngành tham gia thực hiện khảo sát về gửi phiếu khảo sát về cho bộ phận tổng hợp tương đối là đồng đều. Trong đó, tỷ lệ sinh viên Khoa Luật Thương mại gửi phiếu khảo sát về chiếm tỷ lệ cao hơn đối với các khoa khác với tỷ lệ 33%, tiếp đến là Khoa Luật Hình sự (24%), còn lại các khoa khác là tương đối đồng đều. Điều này, có thể phản ánh số lượng sinh viên Khoa Luật Thương mại và Hình Sự có sự ổn định về công việc hơn và tỉ lệ sinh viên khoa hai khoa này tham gia khảo sát là tương đối đồng đều qua các năm.

3. Kết quả khảo sát những mảng nội dung liên quan đến cuộc sống và hoạt động của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

3.1. Về tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp: Tỷ lệ này là rất cao: 94,4 %[/B][/COLOR] (giảm so với khóa 31: 97,23%). Hầu hết các sinh viên tham gia thực hiện khảo sát đã có việc làm ổn định. Trong đó, tỷ lệ sinh viên đã từng có việc làm và hiện nay đang làm việc mới là 3,7%, và tỷ lệ sinh viên được khảo sát đang tiếp tục học nâng cao (sau đại học) chiếm tỉ lệ là: 9,25% và tỉ lệ sinh viên đang tìm việc là 1,85%. Trong số sinh viên có việc làm thì tỷ lệ sinh viên có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp chiếm tỷ lệ lớn với 85,2%, tăng cao hơn hẳn so với tỷ lệ cùng năm của khóa 31 (khóa 31 chỉ có 73%). Tiếp đến là sinh viên có việc làm trong khoảng thời gian từ 3 đến 6 tháng sau khi tốt nghiệp (chiếm 14,2%). Điều này chứng tỏ ngoài sự chủ động của Nhà trường và các tổ chức Đoàn – Hội đã hỗ trợ thì sinh viên cũng rất chủ động trong việc tìm kiếm và định hướng nghề nghiệp của mình ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

3.2. Về địa bàn làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường : Theo số liệu khảo sát, thì so với năm trước đã có sự dịch chuyển việc làm của sinh viên Luật về các địa phương. Cụ thể: số lượng sinh viên ở lại làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh chỉ còn chiếm tỷ lệ 58% (năm trước là 70%), còn ở các tỉnh thành khác chiếm 33% (năm trước là 20%).

3.3. Về loại hình làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường: Khác với các khóa trước và theo nhận định của kết quả khảo sát nhiều năm liền thì Tỷ lệ sinh viên khóa 32 làm việc trong các loại hình đã có sự đồng đều. Tuy nhiên, các loại hình trong doanh nghiệp và VPLS vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất. Điều này chứng tỏ với sự phát triển của nền kinh tế và quá trình hội nhập đòi hỏi việc hiểu rõ các quy định của pháp luật của người dân ngày càng cao, nên tỷ lệ sinh viên làm trong các VPLS, trong bộ phận pháp chế của các doanh nghiệp ngày càng tăng cao.

3.4. Ví trí làm việc của sinh viên khi ra trường làm: Hầu hết sinh viên tốt nghiệp đều làm những công việc có liên quan đến pháp luật và sử dụng những kiến thức đã được đào tạo từ nhà trường (với tỷ lệ 80% – cao hơn khóa 31 là 70%) và ít cho đến không liên quan đến kiến thức được đào tạo là 5%.

3.5. Mức độ ứng dụng kiến thức được đào tạo vào công việc: Tỉ lệ đánh giá ứng dụng cao chỉ chiếm 13%, và hầu hết đều đánh giá là có thể ứng dụng được với 61% kiến thức được đào tạo.

3.6. Thu nhập bình quân/tháng của sinh viên tốt nghiệp (lương cơ bản): Đa phần các sinh viên Luật tốt nghiệp ra trường làm việc đều có mức lương cơ bản ở mức lương từ 4.000.000đ đến dưới 6.000.000đ chiếm 59%. Đây là một kết quả rất đáng ghi nhận, vì nếu như khóa 31 tốt nghiệp nhận được mức lương từ 4.000.000đ trở lên chỉ chiếm 40% thì đến khóa 32 mức lương căn bản ban đầu sinh viên nhận được từ 4.000.000đ đến dưới 6.000.000đ đã tăng lên 59%. Đáng lưu ý là các sinh viên lớp Chất lượng cao nhận được mức lương đa phần đều từ 6.000.000 trở lên. Điều này, bên cạnh yếu tố trượt giá, thì cũng chứng tỏ được nguồn nhân lực từ trường Đại học Luật TP.HCM đã được thị trường đánh giá ngày càng cao về chất lượng và chấp nhận chi phí cao để có được nguồn nhân lực này. Đặc biệt, sinh viên các lớp CLC với khả năng ngoại ngữ và kỹ năng tốt hơn đã được các đơn vị sử dụng lao động trả lương cao hơn.

3.7. Tỷ lệ sinh viên được đào tạo, học thêm sau khi tốt nghiệp: Với sự phát triển đa dạng của xã hội và nhu cầu ngày càng cao của các đơn vị sử dụng lao động thì ngoài những kiến thức đã học tại trường, sinh viên Luật sau khi tốt nghiệp còn tham gia các khoá đào tạo hoặc học thêm để bổ trợ thêm các kiến thức phục vụ cho công việc của mình. Có tới 52% sinh viên tốt nghiệp ra trường tham gia các khoá đào tạo khác sau khi tốt nghiệp trong đó:

– Tham gia các khoá ngắn hạn: có 18% tham gia các khoá ngắn hạn liên quan đến pháp luật (chủ yếu là các khóa học nghiệp vụ do đơn vị sử dụng lao động tổ chức). 14% tham gia các khoá ngắn hạn về tin học, 11% tham gia các khoá ngắn hạn về ngoại ngữ.

– Tham gia học văn bằng 2: tỉ lệ khảo sát cho thấy sinh viên khóa 32 tốt nghiệp ra trường không chú trọng tham gia các khóa học văn bằng 2 như các khóa đào tạo trước, chỉ có 7% tham gia học bằng 2 về ngoại ngữ và 3,6% tham gia học bằng 2 các chuyên ngành khác.
– Học sau đại học (thạc sỹ, tiến sỹ): có 11% sinh viên được khảo sát là đang tham gia học sau đại học đối với các chuyên ngành liên quan.

3.8. Một số thống kê khác: Về xếp loại của sinh viên khi tốt nghiệp thì có tới 31,5% sinh viên tốt nghiệp có việc làm được khảo sát tốt nghiệp loại khá, và 59% sinh viên tốt nghiệp loại trung bình – khá và loại giỏi là 2%. Nguyên nhân trên xuất phát từ thực tế là các sinh viên được khảo sát đang làm việc tại TP. Hồ Chí Minh chiếm tỷ lệ lớn hơn, điều này chứng tỏ không chỉ các sinh viên đạt loại khá mà các sinh viên đạt loại trung bình – khá có xu hướng trụ lại TP. Hồ Chí Minh để làm việc vẫn nhiều hơn là về các tỉnh thành./.